Chuyện mình cài lại Linux cũng hoàn toàn là tình cờ, ngay cùng thời điểm với mấy người đồng nghiệp của mình là Nathan Edwards và Stevie Bonifield. Cách đây vài tháng, mình quyết định thổi luồng sinh khí mới vào chiếc Dell XPS 15 đời 2019 – con máy vốn đã bám bụi trong góc tủ suốt vài năm qua.
Dù sở hữu cấu hình từng thuộc hàng khủng với CPU Core i7 và 32GB RAM, Windows trên con máy này chạy chậm đến mức khó chịu. Quạt tản nhiệt lúc nào cũng rú lên hết công suất ngay cả khi máy đang rảnh, chưa kể nó còn thường xuyên lỗi khi cập nhật hệ thống. Thế là đầu năm 2024, mình bỏ cuộc và chuyển sang dùng MacBook Pro M1.
Nhưng mình vẫn muốn để lại chiếc laptop cũ cho đứa con lớn tập gõ phím. Thêm vào đó, mình cũng đang tìm kiếm một giải pháp viết lách tập trung, không gây xao nhãng. (Bật mí luôn: chiếc laptop này chẳng phải giải pháp mình tìm đâu). Thế là, mình lại cài Ubuntu. Một lần nữa.
Thực ra, trước khi dùng MacBook hay Dell XPS, mình từng là một "fan cứng" của Linux. Mình cài Ubuntu lần đầu vào năm 2006 trên một chiếc ThinkPad X40. Suốt 13 năm sau đó, nó là hệ điều hành chính của mình qua ba đời laptop khác nhau.

Dù có vài... gọi là "tật xấu" đi (kiểu như Wi-Fi không nhận ngay từ đầu trên con X40 đó), mình vẫn gắn bó hạnh phúc với Linux trong một thời gian dài. Mình có cài song song (dual-boot) Windows vì bắt buộc, và thỉnh thoảng dùng MacBook của công ty để test app hoặc làm các việc đặc thù như dựng phim. Còn lại, 99% cuộc sống của mình diễn ra trên Ubuntu.
Nhưng mọi thứ bắt đầu thay đổi từ khoảng năm 2017. Khi mình già đi, việc vọc vạch laptop từ một sở thích bỗng trở thành rào cản cho những đam mê khác. Mình tìm lại tình yêu với việc làm nhạc, và dù đã cố gắng hết sức, Ubuntu Studio vẫn không đáp ứng nổi. Mình dành nhiều thời gian hơn cho Ableton Live trên Windows, cho đến năm 2019, mình mua con XPS và chuyển hẳn sang hệ điều hành của Microsoft.

Bức tranh toàn cảnh của Linux đã thay đổi rất nhiều sau 20 năm kể từ lần đầu mình cài đặt, và thậm chí là sau 7 năm kể từ lần cuối mình dùng nó. Giờ đây, Linux được coi là nền tảng chơi game PC tuyệt vời. Có những ứng dụng chỉnh sửa ảnh chuyên nghiệp như Darktable. Thậm chí còn có cả những lựa chọn thương mại để làm nhạc như Bitwig hay Reaper – tất cả đều đã cải tiến vượt bậc.
Quy trình cài đặt Ubuntu không thay đổi mấy, chỉ là giao diện trông mượt mà hơn thôi. Mình chép file ISO vào USB và định xóa sạch ổ cứng con XPS. Nhưng đến phút cuối mình lại chùn bước và chọn cài song song, nghĩa là phải chia lại phân vùng ổ cứng.
Ngay lập tức, mình bị dội một gáo nước lạnh: Linux vẫn chưa thoát khỏi cái dớp "hay lỗi vặt". Trình quét vân tay không hoạt động. Một hạt sạn nhỏ thôi, mình quyết định lờ đi.
Nhưng điều đáng lo hơn là Ubuntu không thể cài đặt các bản cập nhật vì lỗi phân vùng EFI – một vấn đề đặc thù của dòng XPS 15 vốn cũng gây rắc rối trên Windows. Mình đã cố cài được chúng, nhưng cảm giác như mình vừa tạo ra một quả bom nổ chậm khi lỡ tay xóa mất vài file hệ thống quan trọng.

Ubuntu cũng từ chối nhận phân vùng Windows của mình trong tháng đầu tiên, rồi bỗng nhiên hoạt động trở lại mà chẳng rõ lý do. Đồng nghiệp Stevie của mình cũng thừa nhận đã phải "tắt máy đi ngủ trong tức tối" khi không thể kết nối Ubuntu với ổ SSD thứ hai. Nathan thì gặp vấn đề quái đản khi bản CachyOS của cậu ấy không thèm nhận click chuột.
Cậu ấy còn bị rơi vào trạng thái "liệt tâm lý" khi phải chọn giữa 4 bộ nạp khởi động (bootloader) và 13 môi trường desktop khác nhau. Với nhiều người, đây là điểm cộng – sự tùy biến vô hạn. Nhưng vấn đề là, như mình đã rút ra sau bao ngày tỉ mẩn tinh chỉnh desktop, bạn đang xây một "tòa lâu đài trên cát". Chỉ cần một thay đổi nhỏ trong một thư viện hay plugin nào đó cũng có thể khiến cả hệ thống sụp đổ. Mình không muốn lãng phí thời gian để sửa lỗi khi mình đã có những thứ vốn đang chạy tốt.
Kể cả khi bạn chọn sự đơn giản như mình đã làm, cũng chẳng có gì đảm bảo mọi chuyện sẽ êm xuôi. Ubuntu là một trong những distro được hỗ trợ tốt nhất, nhưng cài phần mềm trên Linux giờ đây còn rắc rối hơn cả 20 năm trước. Nhiều ứng dụng từ Ubuntu App Center hay các gói .deb cứ lẳng lặng cài lỗi mà không có lấy một dòng thông báo. Mình lại phải mở Terminal ra để xem chuyện gì đang xảy ra.
Ngay cả những thứ chạy được cũng không hề mượt mà. Mình cài được Steam, nhưng mất hàng giờ đồng hồ, phải cài thêm cả các thư viện 32-bit cũ kỹ và máy thì crash liên tục. À, game trên Steam còn không nhận soundcard của mình, nó chỉ chịu phát tiếng qua loa laptop.
Bitwig thì nhận soundcard đấy, nhưng lại dở dứng với các bộ điều khiển MIDI (thứ mà mình chưa bao giờ gặp trên Mac) và crash ngay lần đầu khởi động. Chưa kể, mình rất nhớ các plugin yêu thích như Arturia’s Pigments – vốn chỉ có trên Windows và Mac.
Còn hàng tá những phiền phức nhỏ nhặt khác. Nếu laptop chuyển sang chế độ ngủ, nó sẽ không nhận lại ổ cứng ngoài và đầu đọc thẻ SD. Muốn dùng lại thì phải khởi động lại máy. Nó cũng không chịu "thức giấc" khi mình dùng chuột hay bàn phím Bluetooth. Mình cứ phải mở nắp máy ra thì nó mới lên hình trên màn hình rời.
Nếu bạn chỉ cần một trình duyệt web, Ubuntu chạy cực ngon. Wi-Fi ổn định, Firefox mượt mà. Con XPS của mình giờ chạy nhanh và êm hơn hẳn so với hồi dùng Windows. Mình cũng cài được Obsidian mà không gặp rắc rối gì. Mình đã thử dùng Ubuntu làm máy làm việc chính trong vài ngày và mọi thứ đều ổn, đơn giản vì công việc của mình chủ yếu nằm trên trình duyệt.
Nhưng đó là tất cả những gì nó làm được. Mình có thể chơi game trên Linux, nhưng trải nghiệm trên Switch hay PS4 vẫn sướng hơn. Mình có thể làm nhạc trên Ubuntu, nhưng Ableton trên macOS dễ dùng hơn và hỗ trợ mọi VST của mình. GIMP và Darktable ổn đấy, nhưng thành thật mà nói, chúng còn lâu mới theo kịp Lightroom và Photoshop.
Linux giờ đây có thể làm được mọi thứ – đôi khi còn tốt hơn Windows. Nhưng sau tất cả, mình luôn cảm thấy có một lựa chọn khác tốt hơn ngoài kia.
Discussion